Viêm màng não vi trùng

I, ĐẠI CƯƠNG : Viêm màng não vi trùng hay viêm màng não mủ là hiện tượng viêm  của các màng bao bọc quanh hệ thần kinh trung ương (nãotủy sống) do sự hiện diện của các vi khuẩn gây bệnh trong khoang dịch não tủy. Sự viêm nhiễm này sẽ gây nên tình trạng sinh mủ bên trong hệ thống thần kinh trung ương.

http://i.imgur.com/nLUhTnE.jpg

II, NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Nguyên nhân gây bệnh khác nhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Ở các quốc gia có nền y học phát triển, việc chủng ngừa Hemophilus influenzae đã được thực hiện từ vài chục năm nay nên tỉ lệ gây bệnh do tác nhân này giảm xuống rõ rệt, đứng sau phế cầu, não mô cầu. Tuy nhiên ở các nước nghèo như Việt Nam việc tiêm chủng ngừa Hemophilus influenzae chưa được rộng rãi nên tác nhân này vẫn chiếm hàng đầu, sau đó là phế cầu, não mô cầu, tụ cầu khuẩn, vi khuẩn thương hàn. Ở lứa tuổi sơ sinh và trẻ nhỏ (thường dưới 3 tháng) thì nguyên nhân không khác nhau ở các nước: E. coli, liên cầu khuẩn nhóm B, Listeria monocytogenes. Các vi khuẩn này có thể từ vị trí tai mũi họng, phổi đi theo đường máu vào trong não hoặc đi theo đường kế cận từ các ổ nhiễm trùng cạnh màng não hoặc cũng có thể đi trực tiếp vào não khi bị chấn thương nứt vỡ sọ...

  1. Phế cầu khuẩn

Thường được gọi tắt là phế cầu (Streptococcus pneumoniae) là nguyên nhân gây viêm màng não mủ hàng đầu ở lứa tuổi ngoài sơ sinh tại các nước phát triển (có chủng ngừa rộng rãi Hemophilus influenzae tuýp b). Tỷ lệ viêm màng não mủ do phế cầu vào khoảng 1 - 3/1000 dân. Nhiễm trùng có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào. Những tháng giữa mùa đông có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất trong năm. Phế cầu gây nhiễm trùng huyết và viêm màng não mủ thường xuất phát từ nơi cư trú là niêm mạc hầu họng. Trẻ em sau khi sinh dễ bị lây vi khuẩn này từ các thành viên trong gia đình. Các yếu tố nguy cơ của viêm màng não mủ do phế cầu là viêm tai giữa, viêm xoang, viêm phổi, rò rỉ dịch não tủy qua tai hoặc qua mũi, bệnh nhân cắt lách, nhiễm HIV, sau ghép tạng.

  1. Haemophilus influenzae tuýp b

Viêm màng não mủ do Haemophilus influenzae tuýp b xảy ra chủ yếu ở trẻ em không được chủng ngừa chống lại tác nhân này. Khoảng 80% các trường hợp viêm màng não mủ do Haemophilus influenzae tuýp b xảy ra ở trẻ từ 1 tháng đến 3 tuổi, là lứa tuổi mà hệ thần kinh phát triển nhanh nhất. Sau ba tuổi, trẻ ít bị mắc bệnh do có miễn dịch mắc phải chống lại Polyribophosphate của vách vi khuẩn .

Phương thức truyền bệnh là từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp bởi các hạt nhỏ của chất tiết đường hô hấp. Tỷ lệ tử vong do bệnh còn khá cao. Tử vong thường xảy ra trong những ngày đầu tiên của bệnh.

  1. Não mô cầu

Vi khuẩn thường định cư vùng hầu họng và thường không gây nên triệu chứng gì. Lây truyền chủ yếu do tiếp xúc người với người thông qua các hạt chất tiết nhỏ của đường hô hấp. Không phải tất cả các trường hợp có vi khuẩn đường hầu họng đều bị bệnh.

Hầu hết các trường hợp bệnh xảy ra ở lứa tuổi 6 đến 12 tháng. Thiếu niên cũng bị bệnh nhưng thấp hơn. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là sự xuất hiện các ban xuất huyết hoại tử hình  bản đồ gọi là tử ban. Tỷ lệ tử vong rất cao trong thể tiến triển tối cấp . Trong thể này, tử vong thường xảy ra trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện.

  1. Escherichia coli

Là một trực khuẩn gram âm điển hình, cư trú trong phần thấp của hệ tiêu hóa các động vật máu nóng như chim và động vật có vú. E. coli thường gây viêm màng não mủ ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, ít gặp ở trẻ lớn và người lớn. Viêm màng não mủ do E. coli ở trẻ sơ sinh là một bệnh lý nặng đe dọa tính mạng do nhiễm trùng huyết .

  1. Listeria monocytogenes

Thịt, sữa và các thực phẩm tươi sống khác thường mang vi khuẩn này. Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch như người già, trẻ sơ sinh, bệnh nhân điều trị thuốc ức chế miễn dịch, AIDS thường có nguy cơ bị bệnh. Viêm màng não mủ sơ sinh do tác nhân này thường nằm trong bối cảnh nhiễm trùng huyết nặng. Các dấu hiệu nghi ngờ trên lâm sàng là: mẹ thường có sốt, sinh non không rõ nguyên nhân, nhau thai có tổn thương hạt...

III,TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

  1. Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Các triệu chứng không điển hình và thường biểu hiện một tình trạng bệnh lý toàn thân nặng. các dấu hiệu bao gồm:

Bú kém

Suy kiệt

Tăng kích thích

Cơn ngưng thở

Quấy khóc, không yên tĩnh

Sốt hoặc hạ thân nhiệt

Vô cảm, thờ ơ ngoại cảnh

Co giật

Vàng da

Thóp phồng

Da xanh tái

Biểu hiện sốc

Giảm trương lực cơ

Khóc thét

Hạ đường huyết

Nhiễm toan chuyển hóa khó điều trị

  1. Ở trẻ lớn :

Biểu hiện bệnh ở nhóm tuổi này tương đối điển hình hơn với các dấu hiệu như sau:

Sốt

Dấu nhiễm trùng, nhiễm độc

Cứng cổ

Tư thế ưỡn người

Thóp phồng (nếu thóp chưa đóng kín)

Co giật

Sợ ánh sáng

Nhức đầu

Suy giảm ý thức

Tăng kích thích

Mệt mỏi suy nhược

Chán ăn

Buồn nôn và nôn vọt

Hôn mê

IV,BIẾN CHỨNG

Tử vong: mặc dù có nhiều tiến bộ trong hồi sức thần kinh, tỷ lệ tử vong của viêm màng não còn rất cao, có nơi đến 30%.

Bại não

Não úng thủy

Động kinh

Chậm phát triển tinh thần vận động

Điếc tiếp nhận

Mù vỏ não

V,PHÒNG BỆNH

Phát hiện và điều trị sớm các nhiễm trùng tai - mũi - họng, hô hấp.

Chăm sóc răng miệng, điều trị các bệnh nha khoa.

Tiêm chủng: là biện pháp phòng ngừa bệnh chủ động và hiệu quả nhất . Hiện nay trên thị trường đã có vaccine phòng Hemophilus influenzae, não mô cầu và phế cầu.

Cải thiện môi trường sống, giữ gìn vệ sinh cá nhân.

Tài liệu tham khảo chính

Charles G. Prober. Central nervous system infections. Nelson textbook of Pediatrics. 16th edition. Pages 751 - 757.

Biên soạn: BSCK1.Trần Quốc Toản